1. Ung thư vú HR(+)/HER2(-) là gì?
Ung thư vú HR(+)/HER2(-) là nhóm ung thư có thụ thể nội tiết dương tính (HR+) nhưng không biểu hiện quá mức HER2. Đây là một trong những phân nhóm ung thư vú thường gặp và có thể xuất hiện tình trạng tái phát hoặc di căn sau điều trị ban đầu.
Ở giai đoạn tái phát, di căn, mục tiêu điều trị chủ yếu là kiểm soát bệnh, kéo dài thời gian sống, giảm triệu chứng và duy trì chất lượng cuộc sống.
2. CDK4/6 là gì?
Chu kỳ tế bào ở người được điều khiển bởi một phức hợp các cyclin và các kinase phụ thuộc cyclin (CDK) liên kết với chúng. Các cyclin loại D và các CDK liên kết với chúng (CDK4 và CDK6) là những thành phần quan trọng của bộ máy chu kỳ tế bào trong việc thúc đẩy quá trình chuyển từ pha G1 sang S thông qua quá trình phosphoryl hóa và bất hoạt protein retinoblastoma (Rb)
Thuốc ức chế CDK4/6 gắn vào CDK4/6, ngăn không cho chúng kết hợp với cyclin D. Khi CDK4/6 bị khóa, protein điều hòa Rb (Retinoblastoma) không bị phosphoryl hóa, giữ nguyên trạng thái ức chế tăng trưởng. Tế bào ung thư bị kẹt ở giai đoạn G1, không thể phân chia và nhân lên, dẫn đến ngừng phát triển hoặc đi vào chu trình chết tế bào theo chương trình (apoptosis).

Thuốc ức chế CDK4/6 tác động vào con đường này, giúp làm chậm hoặc ngăn chặn quá trình phân chia của tế bào ung thư.
Ba thuốc ức chế CDK4/6 được sử dụng rộng rãi trong ung thư vú gồm:
– Palbociclib
– Ribociclib
– Abemaciclib
3. Hiệu quả của các thuốc ức chế cdk4/6
Hiện nay, Ribociclib, Palbociclib và Abemaciclib là 3 thuốc ức chế CDK4/6 được sử dụng trong điều trị ung thư vú HR(+)/HER2(-) tái phát, di căn. Hiệu quả của nhóm thuốc này đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu lớn như MONALEESA, PALOMA và MONARCH.
Khi phối hợp với liệu pháp nội tiết, thuốc ức chế CDK4/6 giúp:
-Kéo dài thời gian sống không tiến triển (PFS) so với điều trị nội tiết đơn thuần.
– Tăng tỷ lệ đáp ứng và kiểm soát bệnh.
– Một số nghiên cứu, đặc biệt với Ribociclib và Abemaciclib, ghi nhận cải thiện thời gian sống toàn bộ (OS) ở một số nhóm người bệnh.
– Có thể giúp trì hoãn nhu cầu hóa trị ở những người bệnh phù hợp.
* Bằng chứng từ các nghiên cứu lớn:
– Ribociclib: Các nghiên cứu MONALEESA-2, MONALEESA-3 và MONALEESA-7 cho thấy phối hợp Ribociclib với liệu pháp nội tiết giúp cải thiện rõ rệt PFS và ở nhiều phân tích còn ghi nhận lợi ích về OS. Hiệu quả được chứng minh ở cả phụ nữ sau mãn kinh và tiền mãn kinh.
– Palbociclib: Nghiên cứu PALOMA-2 và PALOMA-3 cho thấy Palbociclib phối hợp liệu pháp nội tiết giúp kéo dài PFS và tăng khả năng kiểm soát bệnh. Tuy nhiên, lợi ích về OS không được chứng minh rõ ràng trong PALOMA-2.
– Abemaciclib: Các nghiên cứu MONARCH-2 và MONARCH-3 cho thấy Abemaciclib phối hợp liệu pháp nội tiết giúp cải thiện PFS và tỷ lệ đáp ứng; một số phân tích cũng ghi nhận lợi ích về OS.
Tác dụng không mong muốn tùy từng thuốc, thường gặp gồm: giảm bạch cầu trung tính, giảm bạch cầu, thiếu máu, mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa. Abemaciclib thường gặp tiêu chảy, trong khi Ribociclib cần lưu ý tăng men gan và kéo dài khoảng QT.
Các thuốc ức chế CDK4/6 kết hợp với liệu pháp nội tiết đã trở thành một trong những chiến lược điều trị quan trọng đối với ung thư vú HR(+)/HER2(-) tái phát, di căn, giúp kiểm soát bệnh tốt hơn và mang lại cơ hội sống lâu hơn cho nhiều người bệnh.
Chính vì những hiệu quả mang lại, hiện nay thuốc ức chế CDK4/6 + nội tiết đã trở thành lựa chọn đầu tay trong điều trị ung thư vú giai đoạn tái phát di căn có HR (+)/HER2 (-).
Tác giả: BS CKI Đặng Thị Hiền – Khoa Nội IV – Bệnh viện Ung bướu Nghệ An
Hiệu đính: BS CKII Phạm Thị Hoàng Phượng – Trưởng khoa Nội IV – Bệnh viện Ung bướu Nghệ An.
