Theo Globocan 2024, ung thư bàng quang là loại ung thư phổ biến thứ chín trên toàn thế giới. Năm 2024, hơn 635.000 người trên toàn thế giới được chẩn đoán mắc ung thư bàng quang và hơn 225.000 người tử vong vì căn bệnh này.
Phẫu thuật cắt bàng quang triệt căn vẫn là phương pháp điều trị tiêu chuẩn, tuy nhiên khoảng 50% người bệnh có thể tái phát trong vòng 5 năm sau phẫu thuật, chủ yếu do các ổ vi di căn không phát hiện được trước mổ.
Hóa trị tân bổ trợ dựa trên Cisplatin như Gemcitabine/Cisplatin hoặc ddMVAC, giúp kiểm soát các ổ vi di căn và cải thiện kết quả điều trị. Tuy nhiên, lợi ích sống còn còn hạn chế và gần 50% bệnh nhân không đủ điều kiện sử dụng Cisplatin do suy giảm chức năng thận, bệnh tim mạch, bệnh lý thần kinh hoặc thể trạng không phù hợp. Do đó, nhu cầu tìm kiếm chiến lược điều trị mới nhằm giảm tái phát và kéo dài sống còn vẫn rất cấp thiết.
Liệu pháp miễn dịch chu phẫu kết hợp điều trị tân bổ trợ trước phẫu thuật và điều trị bổ trợ sau phẫu thuật bằng thuốc ức chế điểm kiểm soát miễn dịch. Với phác đồ Durvalumab + Gemcitabine/Cisplatin trước mổ, điều trị vừa giúp kiểm soát và làm giảm khối u, vừa kích thích đáp ứng miễn dịch chống ung thư. Sau phẫu thuật cắt bàng quang triệt căn, Durvalumab tiếp tục được sử dụng nhằm duy trì đáp ứng miễn dịch và loại bỏ các tế bào ung thư còn sót lại.
Thử nghiệm pha III NIAGARA trên 1.063 bệnh nhân MIBC đủ điều kiện dùng Cisplatin đã đánh giá phác đồ Durvalumab phối hợp Gem/Cis trước phẫu thuật, tiếp theo Durvalumab bổ trợ sau phẫu thuật, so với hóa trị Gem/Cis đơn thuần trước phẫu thuật.

Sau thời gian theo dõi trung vị trên 42 tháng, phác đồ miễn dịch chu phẫu cho thấy những cải thiện đáng kể:
– Tỷ lệ đáp ứng hoàn toàn trên mô bệnh học (pCR): 32% so với 16% ở nhóm đối chứng.
– Tỷ lệ sống còn toàn bộ 3 năm: 82,2% so với 75,2%.
– Giảm nguy cơ: Giảm khoảng 25% nguy cơ tử vong.
– Nhóm bệnh nhân đặc biệt: Ở nhóm bệnh nhân suy giảm chức năng thận (CrCl 40–60 mL/phút), pCR tăng gấp khoảng 2 lần và nguy cơ biến cố giảm 31%.

Đáng chú ý, việc bổ sung Durvalumab không làm ảnh hưởng đáng kể đến khả năng phẫu thuật. Tỷ lệ thực hiện cắt bàng quang triệt căn là 88% ở nhóm Durvalumab và 83% ở nhóm đối chứng; thời gian từ liều điều trị tân bổ trợ cuối cùng đến phẫu thuật cũng tương đương giữa hai nhóm. Độc tính độ 3/4 chủ yếu liên quan đến hóa trị và tương đương giữa hai nhóm; các biến cố bất lợi liên quan miễn dịch phần lớn ở mức độ nhẹ.
Những kết quả tích cực từ nghiên cứu NIAGARA đã thúc đẩy sự thay đổi trong thực hành điều trị MIBC:
– NCCN Guidelines Version 1.2026 đã đưa phác đồ miễn dịch chu phẫu vào nhóm điều trị ưu tiên (Preferred Regimen – Category 1).
– ESMO cũng đánh giá phác đồ Durvalumab trong nghiên cứu NIAGARA ở mức Score A, thể hiện lợi ích lâm sàng đáng kể trong điều trị với mục tiêu triệt căn.
– Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã chính thức phê duyệt chỉ định miễn dịch chu phẫu Durvalumab cho bệnh nhân ung thư bàng quang xâm lấn cơ.
Miễn dịch chu phẫu với Durvalumab phối hợp Gemcitabine/Cisplatin mở ra một hướng tiếp cận mới trong điều trị ung thư bàng quang xâm lấn cơ, giúp tăng đáp ứng hoàn toàn mô bệnh học, giảm nguy cơ tái phát/tiến triển và cải thiện sống còn, đồng thời không làm ảnh hưởng đến kế hoạch phẫu thuật triệt căn. Việc lựa chọn đúng đối tượng và phối hợp đa chuyên khoa là yếu tố quan trọng để tối ưu hóa hiệu quả điều trị và cơ hội chữa khỏi cho người bệnh.
Tài liệu tham khảo
1. Powles T, et al. N Engl J Med. 2024;391(19):1773–1786.
2. NCCN Clinical Practice Guidelines in Oncology: Bladder Cancer. Version 1.2026.
3. EAU Guidelines on Muscle-invasive and Metastatic Bladder Cancer.
4. ESMO-MCBS Scorecard – Durvalumab, NIAGARA Trial.
Tác giả : Bs Nguyễn Thị Cẩm Nhung- Khoa Nội V – Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An
Hiệu đính : Ths Bs. Nguyễn Ngọc Tú – Phó trưởng khoa Nội V – Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An.

Bài viết rất hữu ích