Ung thư vú là loại ung thư có tỷ lệ mắc cao nhất và là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai trong các bệnh ung thư ở phụ nữ toàn cầu. Ước tính trung bình cứ 8 người phụ nữ Mỹ thì có một người mắc ung thư vú. Tại Pháp tỷ lệ này là 1/10. Tỷ lệ tử vong do ung thư vú tăng lên theo tỉ lệ mắc. Tuy nhiên ở một số nước phát triển mặc dù tỷ lệ mắc gia tăng nhanh chóng nhưng tỷ lệ tử vong vẫn giữ được ở mức độ ổn định nhờ các tiến bộ trong sàng lọc phát hiện bệnh sớm và các thành tựu đạt được trong điều trị, đặc biệt là điều trị hệ thống.
Xạ trị đóng vai trò là một trong những trụ cột chính trong điều trị đa mô thức ung thư vú với lịch sử phát triển hơn một thế kỷ. Xạ trị nhằm mục đích tiêu diệt các tế bào ung thư vi thể còn sót lại trong mô vú, thành ngực hoặc vùng hạch bạch huyết mà phẫu thuật không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Nghiên cứu mô học ở bệnh nhân ung thư vú cho thấy có tới ~40% trường hợp tồn tại tế bào ung thư vi thể cách xa khối u gốc >2 cm, ngay cả sau khi phẫu thuật triệt để. Điều này là lý do khoa học để xạ trị toàn bộ vú/ thành ngực được sử dụng để ngăn tái phát tại chỗ.

1.Giá trị của xạ trị sau phẫu thuật bảo tồn vú
1.1. Giảm tái phát tại chỗ
Một phân tích tổng hợp dữ liệu cá nhân từ 10.801 phụ nữ trong 17 thử nghiệm ngẫu nhiên cho thấy: Xạ trị giảm khoảng 50% nguy cơ tái phát bệnh trong 10 năm sau khi phẫu thuật bảo tồn vú.
Con số này được thể hiện cụ thể: Tỷ lệ tái phát tại chỗ giảm từ 31% xuống 16% sau 10 năm khi có xạ trị so với không xạ trị đối với bệnh nhân không di căn hạch.
1.2. Giảm tử vong do ung thư vú
Phân tích trên cũng chứng minh xạ trị sau phẫu thuật bảo tồn sẽ làm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư vú sau 15 năm: từ ~21% xuống ~17%.
Bên cạnh đó, dữ liệu từ các thử nghiệm ngẫu nhiên lớn như NSABP B-06 (theo dõi 20 năm) cho thấy: Tại 20 năm, tái phát bên cùng vú xảy ra ở 14.3% người có xạ trị, trong khi 39.2% người không xạ trị bị tái phát. Điều này minh chứng xạ trị giảm tái phát tại chỗ rõ rệt theo thời gian dài.
2. Khi nào xạ trị sau phẫu thuật được khuyến cáo
Xạ trị trở thành nguyên tắc điều trị chính cho tất cả các người bệnh ung thư vú phẫu thuật bảo tồn và trong các trường hợp sau phẫu thuật cắt tuyến vú toàn bộ như một điều trị bổ trợ.
– Chỉ định xạ trị sau phẫu thuật bảo tồn tuyến vú: Đây là chỉ định bắt buộc sau điều trị phẫu thuật bảo tồn tuyến vú, hoặc cắt rộng u kèm theo vét hạch nách. Trong các trường hợp hạch nách âm tính, chỉ cần xạ toàn bộ vú có hoặc không nâng liều diện u, tùy theo các yếu tố nguy cơ kèm theo. Các trường hợp có hạch nách dương tính cần cân nhắc xạ trị hạch thượng, hạ đòn và hạch nách có nguy cơ.
– Chỉ định xạ trị sau phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến vú: Có thể chia ra chỉ định xạ trị tuyệt đối và chỉ định xạ trị tương đối với các đối tượng có yếu tố nguy cơ cao. Thông thường khối u lớn, bờ cắt dương tính, hoặc hạch nách dương tính sẽ có chỉ định xạ trị bổ trợ.
3. Quy trình và kỹ thuật xạ trị ung thư vú
Cá thể hóa kế hoạch điều trị giúp tối ưu hóa liều lượng vào khối u và bảo vệ các cơ quan lành xung quanh (tim, phổi), dựa trên các kỹ thuật:
– Mô phỏng 3D (CT Simulation): Giúp xác định chính xác thể tích cần xạ và các cơ quan nguy cấp. Sử dụng các dụng cụ cố định như giá vú, mặt nạ nhiệt để giảm sai số qua các lần điều trị.
– Các kỹ thuật xạ tiên tiến gồm:
- Xạ trị 3D-CRT và IMRT: Sử dụng hệ thống ống chuẩn trực đa lá (MLC) để chọn góc chiếu và đường đồng liều tối ưu, giúp liều xạ bao phủ tốt khối u nhưng tránh tối đa tia xạ vào phổi và tim.
- Xạ trị điều biến thể tích (VMAT): Giúp phân bố liều đồng nhất hơn và rút ngắn thời gian phát tia trên máy.
- Kỹ thuật hít sâu nín thở (DIBH): Đây là kỹ thuật quan trọng giúp đẩy tim ra xa khỏi thành ngực trong quá trình phát tia, đặc biệt có lợi cho bệnh nhân ung thư vú bên trái nhằm giảm thiểu liều xạ vào tim.
- Xạ trị hạt Proton: Một kỹ thuật hiện đại giúp kiểm soát liều xạ cực kỳ chính xác, giảm đáng kể liều bức xạ thừa đến các mô lành xung quanh so với xạ trị photon truyền thống.
- Xạ trị bán phần tuyến vú (APBI/PBI): giảm thời gian điều trị và liều vào cơ quan nguy cấp.
- Xạ trị áp sát, xạ trị trong mổ
– Liều xạ tiêu chuẩn: Xạ toàn vú/thành ngực: 45 – 50.4 Gy, phân liều 1.8 – 2.0 Gy/ngày, 5 ngày/tuần; Nâng liều tại diện u (Boost): Thêm 10 – 16 Gy bằng electron hoặc photon để tăng cường kiểm soát tại vị trí nguy cơ cao nhất.
4. Theo dõi bệnh nhân xạ trị
4.1. Trong quá trình chiếu xạ:
Cần theo dõi sát bệnh nhân trong quá trình xạ trị nhằm phát hiện những tác dụng phụ sớm của xạ trị như phản ứng da vùng tia, mệt mỏi, buồn nôn, chán ăn… Từ đó có các biện pháp chăm sóc da vùng tia cũng như điều trị triệu chứng gây ra bởi xạ trị, nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và tăng hiệu quả chiếu xạ.
4.2. Sau quá trình xạ trị:
Sau khi bệnh nhân kết thúc xạ trị cần được theo dõi sát sao nhằm phát hiện các tái phát sớm tại chỗ, tại vùng cũng như di căn xa để có biện pháp điều trị kịp thời.
5. Quản lý tác dụng phụ và biến chứng sau xạ trị
Dù ít gây tổn thương nặng nề đến sinh hoạt, xạ trị vẫn có thể gây ra một số phản ứng:
5.1. Phản ứng cấp tính
Viêm da do xạ trị: Gặp ở trên 90% bệnh nhân, biểu hiện từ đỏ da nhẹ, bong da khô đến bong da ướt (hiếm gặp hơn).
Mệt mỏi: Thường đạt đỉnh ở tuần thứ 3-4 của liệu trình và cải thiện sau khi kết thúc điều trị.
5.2. Biến chứng muộn (Ít gặp nhưng cần theo dõi)
– Xơ hóa tổ chức dưới da, phù tay voi.
– Viêm phổi do xạ trị (khoảng 7% trường hợp xạ trị lồng ngực).
– Biến chứng tim mạch hoặc ung thư thứ phát (rất hiếm).
Tóm lại, xạ trị trong ung thư vú không chỉ giảm nguy cơ tái phát tại chỗ một cách đáng kể mà còn góp phần giảm tử vong do ung thư vú trong dài hạn.
Tác giả bài viết: BS. Lê Thị Thùy Trang – Khoa Xạ III, Bệnh viện Ung bướu Nghệ An
Hiệu đính: ThS.BS. Trần Xuân Yên – Phó trưởng Khoa Xạ III, Bệnh viện Ung bướu Nghệ An
