Sarcoma mô mềm (SCMM) là ung thư của mô liên kết, có nguồn gốc trung mô trừ xương, tạng và hệ võng nội mô. Sarcoma mô mềm là một loại ung thư ít gặp, chiếm khoảng 1,5% trường hợp trong tất cả các loại ung thư. Có khoảng gần 7.800 trường hợp mới được chẩn đoán bị sarcoma mô mềm tại Hoa Kỳ mỗi năm và khoảng 4.400 người tử vong vì căn bệnh này hàng năm. Tỷ lệ mắc bệnh ở nam nhiều hơn nữ.

I. Cơ chế bệnh sinh
Về mặt sinh học u, sarcoma phần mềm cực kỳ nguy hiểm bởi hai đặc tính cốt lõi: Sự hình thành vỏ giả (pseudocapsule) và khả năng xâm lấn vi thể. Khi phát triển, khối u nén ép các mô liên kết xung quanh tạo thành một ranh giới cơ học trông như một màng bọc. Thực chất, đây không phải vỏ bọc thực sự mà là vùng tập trung các dải tế bào ác tính liên tục đâm xuyên ra ngoài để tạo các ổ vi di căn vệ tinh. Nếu phẫu thuật viên chỉ “bóc u sát rìa” dọc theo lớp vỏ giả này, các tế bào ung thư chắc chắn sẽ bị bỏ sót tại giường phẫu thuật. Đồng thời, tế bào sarcoma có ái lực cao với cấu trúc giải phẫu, chúng chủ động len lỏi rất xa dọc theo các bọc cơ (fascial planes), bao thần kinh và mạch máu. Hiện tượng xâm lấn ngầm này diễn ra ở cấp độ vi thể, hoàn toàn vô hình trước mắt thường và vượt quá giới hạn phân giải của phim chụp MRI hay CT. Vì vậy, phẫu thuật đơn thuần rất dễ thất bại, cần phải phối hợp với xạ trị như một “vũ khí” hiệp đồng để quét sạch toàn bộ tổn thương vi thể ẩn nấp bên ngoài rìa phẫu thuật.
II. Nguyên tắc điều trị
Nguyên tắc điều trị ung thư phần mềm (hay còn gọi là sarcoma mô mềm) dựa trên việc phối hợp đa mô thức (phẫu thuật, xạ trị, hóa trị). Mục tiêu hàng đầu là loại bỏ triệt để khối u, kiểm soát tái phát tại chỗ, ngăn ngừa di căn xa, đồng thời cố gắng bảo tồn tối đa chức năng của các cơ quan hoặc chi thể.
Phẫu thuật đóng vai trò quan trọng nhất trong việc kiểm soát bệnh tại chỗ đối với hầu hết các trường hợp sarcoma mô mềm. Phẫu thuật cần đảm bảo diện cắt rộng để đạt được diện cắt R0, không chỉ bóc tách khối u ra khỏi vỏ bao, mà phải cắt bỏ toàn bộ khối u cùng với một rìa mô lành xung quanh (thường từ 1 – 2 cm về mọi hướng). Xu hướng y học hiện đại ưu tiên phẫu thuật bảo tồn chi (tránh cắt cụt tay/chân) bằng cách kết hợp với xạ trị, trừ trường hợp u đã xâm lấn quá sâu vào các bó mạch máu, thần kinh lớn hoặc xương không thể bóc tách.
Xạ trị đóng vai trò bổ trợ trước hoặc sau mổ nhằm thu nhỏ khối u, tăng tỷ lệ có thể phẫu thuật bảo tồn chi và tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại, giảm tỷ lệ tái phát.
Hóa trị không phải lúc nào cũng được áp dụng cho mọi ca ung thư phần mềm vì một số thể mô bệnh học ít nhạy cảm với hóa chất. tuy nhiên, ngày nay, hóa trị và liệu pháp miễn dịch ngày nay cũng đóng góp nhiều vai trò qua trọng trong điều trị ung thư phần mầm nhất là các trường hợp nguy cơ cao giúp kiểm soát khả năng di căn và các trường hợp đã có di căn nhiều vị trí.
III. Vai trò của xạ trị
Về vai trò của xạ trị, tùy thuộc vào vị trí, kích thước khối u và đánh giá của Hội đồng đa chuyên khoa (MDT), bác sĩ sẽ chỉ định chiến lược phù hợp gồm:
1. Xạ trị tiền phẫu (Trước mổ) – Ưu tiên Cho ung thư giai đoạn II, III
Đây là phương pháp sử dụng tia xạ liều (50-50.4Gy) thấp hơn liều xạ trị bổ trợ vừa làm thoái hóa, thu nhỏ u và tạo ra một “vòng bao xơ” cách ly vừa giảm thiểu các tác dụng phụ lâu dài như xơ hóa mô, phù mạch bạch huyết mãn tính hay cứng khớp. Điều này giúp phẫu thuật viên tách u khỏi các mạch máu/thần kinh lớn dễ dàng, bảo tồn chi và tránh nguy cơ cắt cụt tay/chân.Tuy nhiên xạ trị tiền phẫu vẫn còn những nhược điểm tiềm tàng bao gồm tăng tỷ lệ các biến chứng sớm trong quá trình lành vết thương sau phẫu thuật, đặc biệt là đối với các khối u ở chi dưới.
2. Xạ trị bổ trợ (Sau mổ) – “Chốt chặn” khi diện cắt không an toàn:
Xạ trị bổ trợ sử dụng tia xạ cao hơn (60-66Gy) vào giường hố mổ cũ nhằm tiêu diệt triệt để các tế bào u còn sót lại, giảm tỷ lệ tái phát tại chỗ xuống mức thấp nhất. Chỉ định bắt buộc khi khối u có độ ác tính cao, hoặc khi phẫu thuật viên không thể cắt rộng (do u bám sát các tạng/mạch máu lớn) dẫn đến diện cắt còn tế bào ung thư (R1, R2). Lợi ích của xạ trị bổ trợ gồm bệnh nhân đã đánh giá rõ về thể mô bệnh học cuối cùng, tính chất rìa khối u (R) và giảm tỷ lệ biến chứng lành vết thương (đặc biệt là ở chi dưới). Nhược điểm gồm kích thước trường chiếu lớn hơn, liều bức xạ cao hơn và nguy cơ gia tăng các tác dụng phụ muộn (ví dụ: xơ hóa, phù nề, cứng khớp).
3. Xạ trị giảm nhẹ triệu chứng
Với các khối u tại chỗ hoặc di căn gây ra các triệu chứng đau, chảy máu, chèn ép xạ trị 30-40Gy giúp bệnh nhân cải thiện triệu chứng, nâng cao chất lượng cột sống.
Tài liệu tham khảo:
- Kawaguchi, N., et al. (2004). Clearance margin surgical staging system for soft-tissue sarcomas. Clinical Orthopaedics and Related Research, (419), pp. 182-190.
- Cahlon, O., et al. (2012). The role of radiation therapy in the management of soft tissue sarcoma. Surgical Oncology Clinics of North America, 21(2), pp. 247-269.
- National Comprehensive Cancer Network (NCCN). (2026). NCCN Clinical Practice Guidelines in Oncology: Soft Tissue Sarcoma. Version 1.2026.
- Gronchi, A., et al. / ESMO Guidelines Committee. (2021). Soft tissue and visceral sarcomas: ESMO–EURACAN–GENTURIS Clinical Practice Guidelines for diagnosis, treatment and follow-up. Annals of Oncology, 32(11), pp. 1348-1365.
- Mowery YM, Ballman KV, Hong AM, et al. (2024/2025). Safety and efficacy of pembrolizumab, radiation therapy, and surgery versus radiation therapy and surgery for stage III soft tissue sarcoma of the extremity (SU2C-SARC032): an open-label, randomised clinical trial. Lancet. 2024 Nov 23;404(10467):2053-2064.
Tác giả: BSCKI. Nguyễn Thị Nga – Khoa Xạ Tổng Hợp, Bệnh viện Ung bướu Nghệ An
Hiệu đính: TS.BS. Nguyễn Hải Hoàng, Trưởng Khoa Xạ tổng Hợp, Bệnh viện Ung bướu Nghệ An
