Ung thư tuyến giáp là loại ung thư khá phổ biến với tỉ lệ mắc mới ngày càng tăng. Theo Globocan 2020, ung thư tuyến giáp chỉ đứng hàng 11 đến năm 2022 tỉ lệ mắc mới của ung thư tuyến giáp đã tăng lên hàng thứ 7 với tổng hơn 800.000 ca. Tuy nhiên tỉ lệ tử vong của ung thư tuyến giáp lại chỉ đứng thứ 24 với hơn 47.000 ca tử vong. Từ dữ liệu trên cho thấy ung thư tuyến giáp là bệnh có tiên lượng khá tốt và thường tiến triển chậm. Ung thư tuyến giáp gặp chủ yếu ở nữ giới với tỉ lệ bệnh gặp ở nữa xấp xỉ 3 lần so với nam giới, bệnh chủ yếu gặp ở tuổi từ 30 -50 tuổi và với thể mô bệnh học chủ yếu là ung thư tuyến giáp thể biệt hóa tiến triển chậm, tiên lượng tốt, gồm thể nhú, thể nang hoặc hỗn hợp nhú và nang. Thể nhú là thể hay gặp nhất của ung thư tuyến giáp.
Điều trị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa thường cần phối hợp nhiều phương pháp với nhau như phẫu thuật, điều trị bằng Iod phóng xạ (131I), liệu pháp hormone, điều trị đích và theo dõi định kì. Trong đó, phẫu thuật đóng vai trò quan trọng, sau đó sử dụng phương pháp điều trị bằng I-131 giúp tăng hiệu quả điều trị triệt căn và giảm tỉ lệ tái phát bệnh đáng kể. Với nhóm bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa kháng I-131 còn đặt ra nhiều thách thức lớn trong điều trị..

1. Tiên lượng của Ung thư tuyến giáp thể biệt hóa
– 5-15% BN DTC trở nên kháng RAI, tỷ lệ này ở giai đoạn di căn là 25-50%
– Mất khả năng “bắt” Iodine có liên quan đến sống còn. Hóa trị có hiệu quả kém, tỉ lệ đáp ứng <20%. Không được khuyến cáo trong các hướng dẫn của NCCN và ESMO.
2. Tiêu chuẩn kháng RAI- Theo ATA 2025
Các tiêu chuẩn chẩn đoán chính
– Không bắt giữ I-131 ngay từ đầu: Không ghi nhận sự tập trung I-131 trên xạ hình toàn thân sau điều trị (post-therapy WBS) tại vị trí tổn thương cấu trúc rõ ràng đã xác định trên hình ảnh học (CT, MRI, hoặc 18FDG-PET/CT).
– Bệnh tiến triển trong vòng < 6 tháng: Khối u vẫn tiếp tục tiến triển về mặt cấu trúc (theo tiêu chuẩn RECIST) trong vòng dưới 6 tháng sau một đợt điều trị I-131 thích hợp, mặc dù tổn thương đó có bắt giữ I-131 trên xạ hình.
– Bắt giữ I-131 không đồng nhất (Heterogeneous uptake): Xạ hình sau điều trị ghi nhận I-131 chỉ tập trung ở một số ổ tổn thương, trong khi các ổ di căn khác hoàn toàn không bắt giữ I-131.
– Bệnh tiến triển dù đạt liều tích lũy cao: Tình trạng di căn vẫn tiến triển mặc dù bệnh nhân đã nhận nhiều đợt điều trị I-131 với tổng liều tích lũy lớn (thường > 600mCi / 22 GBq).
3. Lựa chọn cho bệnh nhân ung thư tuyến giáp thể biệt hóa sau thất bại với I- 131
– Điều trị tại chỗ – tại vùng:
+ Xạ trị ngoài
+ Phẫu thuật
+ TACE
– Điều trị toàn thân với thuốc nhắm đa đích (MKI)
+ Lenvatinib
+ Sorafenib
+ Ngoài ra, các thuốc điều trị toàn thân đã được FDA phê duyệt cho bệnh ung thư tuyến giáp khác như: Vandetanib, Dabrafenib,…
4. Hệ thống tính điểm để bắt đầu điều trị với Lenvatinib được ưu tiên trên bệnh nhân kháng RAI-DTC
Nguy cơ thấp : 0-2
Nguy cơ trung bình: 3-5
Nguy cơ cao: 6-8
– Hệ thống tính điểm để bắt đầu điều trị với Lenvatinib trên bệnh nhân kháng RAI
– Quyết định điều trị toàn thân nên được cân nhắc dựa trên nhiều yếu tố, bao gồm:
+ Tốc độ tiến triển
+ Kích thước
+ Vị trí
+ Triệu chứng
Nên xem xét điều trị toàn thân với những bệnh nhân có nhiều tổn thương với kích thước >1–2 cm và tiến triển nhanh <12 tháng.
Bắt đầu điều trị với MKIs trước khi có triệu chứng giúp cải thiện PFS.
5. Cơ chế tác dụng của Lenvatinib
– Lenvatinib tác động trực tiếp lên sự phát triển khối u và di căn, cũng như tác động gián tiếp bằng cách ức chế tăng sinh mạch và tác động lên vi môi trường khối u
– Con đường dẫn truyền tín hiệu trong tế bào ung thư tuyến giáp và cơ chế của lenvatinib:
+ VEGF/VEGFR dẫn truyền tín hiệu kích thích tăng sinh mạch trên bệnh nhân ung thư giáp.
+ GF/FGFR là yếu tố phân tử thúc đẩy phát triển u trong ung thư tuyến giáp.
+ Tăng biểu hiện FGF2, FGFR1, FGFR3 và FGFR4 được phát hiện ở tế bào ung thư tuyến giáp so với mô giáp bình thường.
6. Liều dùng và cách dùng, tác dụng không mong muốn
– Liều khuyến cáo của Lenvatinib là 24 mg (2 viên 10-mg và 1 viên 4-mg) uống một lần mỗi ngày, có kèm hoặc không kèm thức ăn
– Điều trị đến khi bệnh tiến triển hoặc độc tính không dung nạp
– Lenvatinib nên được uống cùng một thời gian mỗi ngày. Nếu BN quên 1 liều, và thời gian đến liều tiếp theo <12h, BN không được uống bù; nếu thời gian đến liều tiếp theo >12h, BN uống bù ngay lúc đó
– Lenvatinib có liều 10mg và 4mg
– Tác dụng phụ khi dùng thuốc có thể gây tăng huyết áp, tiểu đạm, tiêu chảy, sụt cân, hạ calci máu…
Tác giả bài viết: ThS. BS. Nguyễn Thế Bảo – Phó Trưởng khoa Y học hạt nhân, Bệnh viện Ung bướu Nghệ An.
Hiệu đính: ThS.BSCKII. Nguyễn Ngọc Thắng – Trưởng Khoa Y học hạt nhân, Bệnh viện Ung bướu Nghệ An.
