1. TỔNG QUAN
Ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) giai đoạn III không phẫu thuật được là nhóm bệnh cần điều trị đa mô thức. Hóa xạ trị là nền tảng điều trị đối với nhiều người bệnh; tuy nhiên, ngay cả khi khối u đã đáp ứng và bệnh chưa tiến triển, nguy cơ tái phát tại chỗ hoặc di căn xa vẫn còn đáng kể.
Ở nhóm có đột biến EGFR, nghiên cứu pha III LAURA đã mở ra một hướng điều trị mới sau hóa xạ trị. Nghiên cứu bao gồm 216 bệnh nhân UTPKTBN giai đoạn III không phẫu thuật được, có đột biến EGFR exon 19 deletion hoặc L858R và không tiến triển trong hoặc sau hóa xạ trị; người bệnh được phân ngẫu nhiên điều trị osimertinib 80 mg/ngày hoặc giả dược.
Kết quả cho thấy thời gian sống thêm bệnh không tiến triển (PFS) trung vị đạt 39,1 tháng ở nhóm osimertinib so với 5,6 tháng ở nhóm giả dược, tương ứng giảm 84% nguy cơ bệnh tiến triển hoặc tử vong. Tỷ lệ bệnh nhân còn sống và chưa tiến triển sau 12 tháng là 74% với osimertinib so với 22% với giả dược; sau 24 tháng, các tỷ lệ tương ứng là 65% và 13%. Các phân tích của LAURA cũng cho thấy osimertinib giúp giảm nguy cơ tiến triển xa và cải thiện kiểm soát bệnh tại hệ thần kinh trung ương.
Những dữ liệu này cho thấy xét nghiệm EGFR ngày càng có vai trò quan trọng ngay từ giai đoạn III không phẫu thuật được, bởi kết quả xét nghiệm có thể ảnh hưởng trực tiếp đến lựa chọn điều trị sau hóa xạ trị. Dưới đây là một ca lâm sàng được điều trị tại Khoa Nội II – Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An, minh họa việc ứng dụng bằng chứng từ nghiên cứu LAURA vào thực hành lâm sàng.
2. CA LÂM SÀNG
2.1 Thông tin ban đầu và chẩn đoán
– Bệnh nhân nữ, 44 tuổi, tiền sử khỏe mạnh, ECOG PS 1, vào viện tháng 9/2025 vì đau ngực phải và ho khan.
– CT ngực: ghi nhận khối u phổi phải vùng thùy trên – thùy dưới, kích thước khoảng 52 × 54 mm; hạch trung thất nhóm 2R, 4R (hạch lớn khoảng 12 × 14 mm) và hạch rốn phổi phải 22 × 31 mm.
– MRI não và xạ hình xương chưa ghi nhận tổn thương di căn.
– Mô bệnh học xác định carcinoma tuyến. Xét nghiệm NGS phát hiện đột biến EGFR exon 19 deletion; ALK âm tính.
– Chẩn đoán xác định: Ung thư phổi phải cT3N2M0, giai đoạn IIIB (TNM phiên bản 8), carcinoma tuyến, có đột biến EGFR exon 19 deletion.
2.2 Hóa xạ trị đồng thời
Bệnh nhân được điều trị hóa xạ trị đồng thời với pemetrexed + cisplatin 3 chu kỳ, kết hợp xạ trị 60 Gy/30 phân liều.

Hình 1. CT ngực trước hóa xạ trị đồng thời (Tháng 9/2025).

Hình 2. CT ngực sau hóa xạ trị đồng thời (Tháng 12/2025).
Sau hóa xạ trị, khối u giảm từ khoảng 52 × 54 mm xuống 35 × 37 mm; các hạch trung thất và hạch rốn phổi phải cũng giảm kích thước. Bệnh nhân đạt đáp ứng một phần, chưa ghi nhận di căn não hoặc xương.
2.3 Osimertinib sau hóa xạ trị
Do bệnh không tiến triển sau hóa xạ trị và có đột biến EGFR exon 19 deletion, bệnh nhân được điều trị tiếp bằng osimertinib 80 mg uống một lần mỗi ngày
2.4 Theo dõi an toàn và xử trí biến cố hô hấp
Khoảng một tháng sau khi bắt đầu osimertinib, bệnh nhân xuất hiện sốt, ho và khó thở. CT ngực ghi nhận tổn thương đông đặc kèm xơ hóa tại vùng phổi đã được xạ trị. Sau đánh giá lâm sàng và loại trừ nguyên nhân nhiễm trùng, tổn thương được đánh giá phù hợp với viêm phổi sau xạ trị độ 2. Osimertinib được tạm ngừng và bệnh nhân được điều trị corticosteroid.

Hình 3. Hình ảnh viêm phổi sau xạ trị trong quá trình điều trị osimertinib.
Sau một tháng, triệu chứng lâm sàng và tổn thương trên CT cải thiện.

Hình 4. Hình ảnh theo dõi sau xử trí, tạm ngừng osimertinib 1 tháng.
Trên cơ sở đánh giá lại lợi ích – nguy cơ, bệnh nhân được sử dụng lại osimertinib 80 mg/ngày và tiếp tục được theo dõi sát. Các hình ảnh theo dõi đến tháng 8/2026 cho thấy bệnh vẫn được kiểm soát sau khi sử dụng lại osimertinib.

Hình 5. Hình ảnh sau tiếp tục osimertinib 6 tháng.
III. Ý NGHĨA THỰC HÀNH
Ca bệnh minh họa việc chuyển những bằng chứng từ nghiên cứu LAURA vào thực hành lâm sàng tại Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An. Ở UTPKTBN giai đoạn III không phẫu thuật được, việc xác định đột biến EGFR có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chiến lược điều trị sau hóa xạ trị, đồng thời mở ra cơ hội duy trì kiểm soát bệnh lâu dài bằng điều trị đích ở nhóm người bệnh phù hợp.
Bên cạnh hiệu quả điều trị, theo dõi an toàn là một phần không thể tách rời trong quá trình quản lý người bệnh. Các triệu chứng hô hấp mới xuất hiện sau hóa xạ trị và trong thời gian sử dụng osimertinib cần được đánh giá sớm, phân biệt với nhiễm trùng và các nguyên nhân khác. Quyết định tạm ngừng thuốc, xử trí biến cố và sử dụng lại osimertinib cần dựa trên đánh giá lợi ích – nguy cơ ở từng người bệnh.
Tại Khoa Nội II – Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An, người bệnh UTPKTBN giai đoạn III được đánh giá toàn diện, phối hợp đa chuyên khoa và lựa chọn chiến lược điều trị dựa trên giai đoạn bệnh, mô bệnh học, đặc điểm phân tử, thể trạng và khả năng dung nạp của từng người bệnh.
TÓM LẠI
Hóa xạ trị vẫn là nền tảng trong điều trị UTPKTBN giai đoạn III không phẫu thuật được. Với người bệnh có đột biến EGFR exon 19 deletion hoặc L858R và bệnh không tiến triển sau hóa xạ trị, osimertinib mở thêm một lựa chọn quan trọng nhằm kéo dài thời gian kiểm soát bệnh. Ca lâm sàng trên cho thấy giá trị của xét nghiệm EGFR ngay từ giai đoạn III, đồng thời nhấn mạnh vai trò của việc theo dõi sát, phát hiện sớm và xử trí kịp thời các biến cố trong quá trình điều trị.
Tác giả: ThS.BS. Nguyễn Thị Thúy Mỵ – Khoa Nội II – Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An.
Hiệu đính: TS.BSCKII. Nguyễn Khánh Toàn – Trưởng khoa Nội II – Bệnh viện Ung Bướu Nghệ An.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lu S, Kato T, Dong X, et al.; LAURA Trial Investigators. Osimertinib after Chemoradiotherapy in Stage III EGFR-Mutated NSCLC. N Engl J Med. 2024;391(7):585–597. doi:10.1056/NEJMoa2402614.
2. Lu S, Ahn MJ, Reungwetwattana T, et al. Osimertinib after definitive chemoradiotherapy in unresectable stage III epidermal growth factor receptor-mutated non-small-cell lung cancer: analyses of central nervous system efficacy and distant progression from the phase III LAURA study. Ann Oncol. 2024;35(12):1116–1125. doi:10.1016/j.annonc.2024.08.2243.

tôi muốn liên hệ bác sỹ để điều trị cho người nhà