Ung thư đầu cổ là nhóm bệnh ung thư xuất phát từ các cơ quan và cấu trúc vùng đầu, mặt và cổ, ngoại trừ não, mắt và tuyến giáp. Khoảng 90% các trường hợp là ung thư biểu mô tế bào vảy, phát sinh từ lớp niêm mạc phủ đường hô hấp và tiêu hóa trên. Nhóm bệnh này bao gồm ung thư khoang miệng (môi, lưỡi, sàn miệng, niêm mạc má…), ung thư vòm mũi họng, ung thư hầu họng, ung thư hạ họng, ung thư thanh quản, ung thư mũi – xoang cạnh mũi và một số ung thư tuyến nước bọt.
Ung thư đầu cổ là một trong những nhóm ung thư phổ biến trên thế giới với khoảng 900.000 ca mắc mới và hơn 400.000 ca tử vong mỗi năm. Bệnh gặp ở nam giới nhiều hơn nữ giới, với tỷ lệ nam/nữ dao động từ 2:1 đến 4:1. Tại Việt Nam và nhiều quốc gia Đông Nam Á, ung thư vòm mũi họng có tỷ lệ mắc tương đối cao, trong khi ung thư khoang miệng và thanh quản thường liên quan chặt chẽ đến tình trạng hút thuốc lá và sử dụng rượu bia.
Điều đáng lưu ý là phần lớn các trường hợp ung thư đầu cổ có liên quan đến những yếu tố nguy cơ có thể phòng tránh được. Trong đó, thuốc lá và rượu bia là hai yếu tố nguy cơ quan trọng nhất, liên quan đến khoảng 75–85% các trường hợp ung thư đầu cổ. Ngoài ra, nhiễm virus, chế độ ăn uống, phơi nhiễm nghề nghiệp, vệ sinh răng miệng và một số yếu tố di truyền cũng góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh.
1. Thuốc lá
Hút thuốc lá là nguyên nhân quan trọng nhất gây ung thư đầu cổ. Khói thuốc chứa hơn 70 chất có khả năng gây ung thư, làm tổn thương DNA của tế bào niêm mạc và thúc đẩy quá trình hình thành ung thư. Người hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư đầu cổ cao gấp 5–25 lần so với người không hút, tùy theo số lượng và thời gian hút thuốc. Những người hút trên một bao thuốc mỗi ngày hoặc bắt đầu hút từ khi còn trẻ có nguy cơ đặc biệt cao. Nguy cơ giảm dần sau khi cai thuốc nhưng vẫn cao hơn người chưa từng hút trong nhiều năm. Không chỉ thuốc lá điếu, các hình thức sử dụng thuốc lá khác như xì gà, thuốc lào, thuốc lá điện tử, thuốc lá nhai hay thuốc lá hít cũng đều tiềm ẩn nguy cơ gây ung thư. Bên cạnh đó, việc thường xuyên tiếp xúc với khói thuốc lá thụ động tại gia đình hoặc nơi làm việc cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh.
2. Rượu: Việc tiêu thụ rượu độc lập làm tăng nguy cơ ung thư ở đường hô hấp tiêu hóa trên. Nguy cơ ung thư đầu và cổ tăng gấp năm đến sáu lần khi uống rượu nhiều hơn 50 g/ngày so với uống ít hơn 10 g/ngày. Việc uống rượu và hút thuốc lá dường như có tác động tương tác và nhân lên nguy cơ phát triển ung thư đầu và cổ.
3. Thuốc phiện: Việc sử dụng thuốc phiện có liên quan đến việc tăng nguy cơ ung thư thanh quản. Thuốc phiện là một chất bất hợp pháp có nguồn gốc từ cây anh túc, cụ thể là từ nhựa của quả hạt chưa chín và chứa nhiều loại ancaloit. Thuốc phiện được coi là chất gây ung thư cho con người khi hút hoặc ăn phải ở nhiều dạng khác nhau như thuốc phiện thô, cặn bã hoặc nhựa cây.
4. Nhiễm trùng do vi-rút: Một số loại virus có vai trò quan trọng trong sự hình thành ung thư đầu cổ.
– Virus Epstein–Barr (EBV) có mối liên quan chặt chẽ với ung thư vòm mũi họng, đặc biệt ở khu vực Đông Nam Á và miền Nam Trung Quốc.
– Virus HPV (Human Papillomavirus), đặc biệt là típ HPV-16, là nguyên nhân chính gây nhiều trường hợp ung thư hầu họng, nhất là ung thư amidan và gốc lưỡi. Những bệnh nhân này thường trẻ tuổi hơn và có thể không có tiền sử hút thuốc hay uống rượu. Việc tiêm vắc xin HPV không chỉ giúp phòng ung thư cổ tử cung mà còn góp phần giảm nguy cơ mắc các ung thư liên quan đến HPV, trong đó có một số ung thư đầu cổ.
5. Suy giảm miễn dịch: Những người nhiễm HIV, người phải sử dụng thuốc ức chế miễn dịch kéo dài sau ghép tạng hoặc mắc các bệnh suy giảm miễn dịch có nguy cơ mắc ung thư đầu cổ cao hơn dân số chung. Hệ miễn dịch suy yếu làm giảm khả năng loại bỏ các tế bào bất thường và tăng nguy cơ nhiễm các virus gây ung thư.
6. Ăn trầu: Phổ biến ở một số vùng nhất định của Châu Á. Yếu tố nguy cơ này làm tăng tỷ lệ mắc khi dùng kết hợp với thuốc lá và rượu.
7. Phơi nhiễm nghề nghiệp
Khi tiếp xúc với chất tẩy rửa khô perchloroethylene, amiăng, thuốc trừ sâu, sợi khoáng nhân tạo, hydrocarbon thơm đa vòng, công nhân dệt, công nhân chế biến gỗ, nhà sản xuất khí mù tạt, sản phẩm nhựa và cao su, nhà tinh chế naphtalen, etanol, sương axit sunfuric, công nhân da và sơn, thợ cơ khí ô tô, công nhân xây dựng (xi măng), nông dân và công nhân kim loại. Riêng Formaldehyde liên quan đến ung thư vòm họng và có thể là ung thư khoang mũi và xoang cạnh mũi
8. Bức xạ: Tia bức xạ là nguyên nhân sinh ung thư tuyến nước bọt, ung thư tế bào vảy và sarcoma vùng đầu cổ
9. Chế độ ăn uống: Một số yếu tố chế độ ăn uống có thể có vai trò bảo vệ cá nhân khỏi ung thư đầu và cổ, trong khi những yếu tố khác có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh, cụ thể chất thịt bảo quản có chứa nitrit làm tăng tỷ lệ ung thư đầu cổ
10. Yếu tố di truyền: Bệnh nhân bị thiếu máu Fanconi có nguy cơ cao mắc bệnh ác tính, bao gồm SCC ở đầu và cổ.
11. Các yếu tố rủi ro khác: Những yếu tố này bao gồm vệ sinh răng miệng kém và bệnh nha chu, có liên quan đến ung thư khoang miệng. Mặt khác, răng giả hoặc răng giả không vừa vặn dường như không phải là các yếu tố rủi ro độc lập đối với sự phát triển của ung thư miệng

ảnh Các bác sĩ của khoa Nội 1 – Bệnh viện Ung bướu Nghệ An đang thăm khám cho bệnh nhân
Ung thư đầu cổ không phải lúc nào cũng có thể phòng tránh hoàn toàn, nhưng phần lớn các yếu tố nguy cơ đều có thể thay đổi. Từ bỏ thuốc lá, hạn chế rượu bia, tiêm phòng HPV, duy trì lối sống lành mạnh và khám sức khỏe khi có dấu hiệu bất thường là những biện pháp đơn giản nhưng hiệu quả giúp giảm nguy cơ mắc bệnh, đồng thời tăng cơ hội phát hiện sớm và điều trị thành công.
Tác giả: BSCKI: Hoàng Thị Diệp- Khoa Nội I- Bệnh viện Ung bướu Nghệ An
Hiệu đính: Ths. Bs. Thái Đình Hiếu- Phó trưởng khoa Nội I – Bệnh viện Ung bướu Nghệ An.
